TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG Bản án số: 106/2025/HS-ST Ngày 27 - 11-2025 | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ————————— |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3-HẢI PHÒNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hải Yến
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Bùi Văn Khương
Bà Nguyễn Thị Minh Phương
Thư ký phiên toà: Ông Văn Đức Mạnh - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 3- Hải Phòng
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3-Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Lê Trung Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 11 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Khu vực 3- Hải Phòng xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 93/2025/TLST-HS ngày 31 tháng 10 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 101/2025/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 11 năm 2025 đối với bị cáo:
Đồng Đức C, sinh ngày 24/6/1966 tại Hải Phòng. Nơi cư trú: Tổ dân phố L, phường H, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: Lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đồng Đức M (đã chết) và bà Nguyễn Thị B; chưa có vợ con; tiền án: Án số 42/2017/HSST ngày 26/9/2017 Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử 18 tháng tù về tội Tội cắp tài sản (chưa xóa án); Án số 104/2019/HS-ST ngày 05/11/2019 Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử 15 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (chưa xóa án); Án số 25/2020/HS-ST ngày 19/6/2020 Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy, tổng hợp hình phạt 15 tháng tù tại bản án số 104/2019/HS-ST ngày 05/11/2019 của Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 57( năm mươi bảy) tháng tù (chưa xóa án); nhân thân: Năm 1988 trộm cắp tài sản bị Công an huyện A, thành phố Hải Phòng xử phạt hành chính bằng hình thức cảnh cáo; Án số 67/HSST ngày 12/9/1991 Tòa án nhân
dân huyện An Hải, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng từ nhưng cho hưởng án treo về tội Trộm cắp tài sản (đã xoá án); Án số 76/HSST ngày 01/10/1992 Tòa án nhân dân huyện An Hải, thành phố Hải Phòng xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt buộc Đồng Đức C phải chấp hành 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo của bản án số 67/HSST ngày 12/9/1991 của Tòa án nhân dân huyện An Hải thành 12 tháng tù giam cộng với 12 tháng tù giam của tội mới thành hình phạt chung là 24 tháng tù giam (đã xoá án); Án số 06/HSST ngày 10/01/1996 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 01năm tù về tội Gây rối và 04 năm tù về tội Trộm cắp tài sản Xã hội chủ nghĩa, bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai tội là 05 năm tù (đã xoá án); Án số 09/ST ngày 12/6/2001 Tòa án nhân dân huyện Kinh Môn, tỉnh Hải Dương xử phạt 36 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản (đã xoá án); Án số 333/STHS ngày 13/11/2001 Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xử phạt 08 năm tù về tội Cướp tài sản và 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản, tổng hợp hình phạt chung cho cả hai tội là 11 năm tù, tổng hợp với 03 năm tù của bản án số 09/ST ngày 12/6/2001 của Tòa án Kinh M1, Hải Dương buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung của hai bản án là 14 năm tù (đã xoá án);
Bị tạm giữ ngày 18/7/2025; tạm giam ngày 26/7/2025; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Do bản thân nghiện ma túy nên khoảng 06 giờ ngày 18/7/2025, Đồng Đức C một mình điều khiển xe mô tô mang biển kiểm soát: 18B1-752.12 đến khu vực đường tàu ở A, Hải Phòng để tìm mua ma túy về sử dụng cho bản thân. Tại đây, C gặp 01 người nam giới không quen biết (hiện chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 500.000 đồng ma túy Heroine. Người này đồng ý, nhận tiền và đưa cho C 01 gói giấy màu trắng. Cán nhận, biết là ma túy và cất gói giấy vào túi áo ngực bên phải đang mặc rồi điều khiển xe mô tô về nhà. Đến khoảng 06 giờ 15 phút cùng ngày, khi C đi đến khu vực trước cửa đình K thuộc tổ dân phố T, phường H, thành phố Hải Phòng thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và thu giữ tại túi áo ngực bên phải C đang mặc 01 gói giấy kích thước 1,5 x 2,5 cm chứa chất bột màu trắng, nghi là ma túy. Ngoài ra lực lượng chức năng còn thu giữ của C 01 xe mô tô hiệu YAMAHA màu trắng mang biển kiểm soát 18B1-752.12.
Bản kết luận giám định số 514/KL-KTHS ngày 23 tháng 7 năm 2025 của Phòng K Công an thành phố H kết luận: “Chất bột màu trắng gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,20 gam, loại Heroin”.
Tại Cơ quan điều tra, Đồng Đức C khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận lượng ma túy cơ quan công an thu giữ tại túi áo ngực bên phải là do C mua của nam giới tại khu vực đường tàu An Dương, Hải Phòng bằng tiền do C tích góp mà có. Chiếc xe mô tô cơ quan Công an thu giữ là của chị gái và bị cáo mượn để sử dụng đi lại, C không nói cho chị gái biết về việc sử dụng xe vào việc đi mua ma túy.
Đối với người nam giới bán ma túy cho C vào ngày 18/7/2025, C không rõ căn cước, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ xử lý.
Đối với chiếc xe máy biển kiểm soát 18B1-752.12 quá trình điều tra xác định đây là tài sản hợp pháp của bà Đồng Thị C1 chị gái của C. Việc C mượn xe của bà C1 đi mua ma túy vào ngày 18/7/2025 nhưng bà C1 không biết nên ngày 23/9/2025 Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã ban hành Quyết định xử lý vật chứng số 19540/QĐ-CSĐT trả lại tài sản cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Đồng Thị C1.
Tại bản Cáo trạng số 24/CT-VKSKV3 ngày 31/10/2025, Viện Kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hải Phòng đã truy tố bị cáo Đồng Đức C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sử đổi bổ sung năm 2025.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng, bị cáo tỏ ra ăn năn, hối cải và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa trình bày lời luận tội, sau khi phân tích đánh giá tính chất vụ án, mức độ, tính nguy hiểm và hậu quả của hành vi phạm tội cùng các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Đồng Đức C mức án từ 06 (Sáu) năm 06 (Sáu) tháng tù đến 07 (bảy) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và đề nghị Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu, tiêu hủy 01 bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói sau giám định
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố H,Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 3- Hải Phòng và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
[2] Về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy: Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản bắt người phạm tội quả tang, báo cáo bắt giữ của lực lượng công an, kết luận giám định, vật chứng thu giữ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy, đã có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 06 giờ, ngày 18/7/2025, tại khu vực trước cửa đình K, tổ dân phố T, phường H, thành phố Hải Phòng, Đồng Đức C bị bắt quả tang khi đang cất giữ trái phép chất ma túy có khối lượng 0,20 gam, là loại Heroine, mục đích để sử dụng cho bản thân. Hành vi của bị cáo đã thỏa mãn cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” vi phạm Điều 249 Bộ luật hình sự.
[3] Về định khung hình phạt: Bản thân bị cáo đã có 08 tiền án trong đó có 03 tiền án gồm án số 42/2017/HSST ngày 26/9/2017 Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử 18 tháng tù về tội Tội cắp tài sản, án số 104/2019/HS-ST ngày 05/11/2019 Tòa án nhân dân huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng xử 15 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có và án số 25/2020/HS-ST ngày 19/6/2020 Tòa án nhân dân huyện An Dương, thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội Mua bán trái phép chất ma túy đến nay đều chưa được xóa án tích, bị cáo phạm tội lần này với lỗi cố ý nên bị cáo phải chịu tình tiết định khung hình phạt được quy định tại điểm o khoản 2 Điều 249 Bộ luật hình sự là tái phạm nguy hiểm như Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 3- Hải Phòng truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Tính chất vụ án là nghiêm trọng. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến chế độ quản lý độc quyền các chất ma túy của Nhà nước. Hiện nay, tệ nạn ma túy đang là hiểm họa lớn đối với toàn xã hội, gây tác hại xấu cho sức khỏe con người, gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến trật tự, an toàn xã hội và là tác nhân làm phát sinh nhiều loại tệ nạn xã hội khác. Vì vậy cần phải có hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như đặc điểm nhân thân của bị cáo.
[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có 08 tiền án và 01 tiền sự, đến nay đã được xóa án tích đối với 05 tiền án và 01 tiền sự còn 03 tiền án của bị cáo chưa được xóa án tích nhưng đã tính là yếu tố định khung hình phạt nên lần phạm tội này bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên qua đó cho thấy bị cáo là người có nhân thân xấu đã được giáo dục rất nhiều lần nhưng lại tiếp tục phạm tội nên Hội đồng xét xử cũng cần cân nhắc khi lượng hình đối với bị cáo.
[6] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt áp dụng đối với bị cáo: Căn cứ tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, đặc điểm nhân thân của bị cáo như đã phân tích ở trên, Hội đồng xét xử thấy bị cáo đã được giáo dục, cải tạo rất nhiều lần nhưng không chịu tu dưỡng, rèn luyện bản thân mà lại tiếp tục phạm tội vì vậy cần có hình phạt tương xứng với hành vi, nhân thân của bị cáo mới đủ tác dụng cải tạo bị cáo. Tuy nhiên cũng xem xét quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn, tỏ ra ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử cũng cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự và qua đó cũng xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo để bị cáo nhận thức được tính khoan hồng của pháp luật mà quyết tâm cải tạo bản thân, cai nghiện ma túy để sớm được trở về với gia đình và xã hội.
[7] Về hình phạt bổ sung: Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo không có công việc cũng như thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
[8] Về xử lý vật chứng: Phòng thi hành án dân sự Khu vực 3- Hải Phòng đang quản lý 01 phong bì giấy niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói sau giám định được niêm phong theo phong bì niêm phong số 514MT/PC09 của phòng K Công an thành phố H. Xét thấy đây là vật chứng liên quan đến việc phạm tội của bị cáo đồng thời là vật cấm tàng trữ, lưu hành nên cần áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy.
[9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
[10] Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt Đồng Đức C 06 (Sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giữ, ngày 18 tháng 7 năm 2025.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tịch thu, tiêu hủy 01bì giấy nguyên niêm phong chứa mẫu vật còn lại và vỏ bao gói sau giám định có dấu niêm phong số 514MT/PC09 của phòng K Công an thành phố H.
(Theo biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản, ngày 30/10/2025 giữa Phòng Cảnh sát điều tra - Công an thành phố H và Phòng Thi hành án dân sự Khu vực 3- Hải Phòng).
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội:
Bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo Đồng Đức C có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
- - Bị cáo;
- - VKSND khu vực 3- Hải Phòng;
- - VKSND TP Hải Phòng;
- - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Hải Phòng;
- - Cơ quan THAHS Công án thành phố Hải Phòng;
- - Trại tạm giam số 1-Công an TP Hải Phòng;
- - UBND phường Hồng An, TP Hải Phòng;
- - Phòng Thi hành án dân sự khu vực 3-Hải Phòng;
- - PV06, PC10 Công an TP Hải Phòng;
- - Sở Tư pháp TP Hải Phòng;
- - Lưu: VT, hồ sơ vụ án.
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
Bùi Văn Khương Nguyễn Thị Minh Phương | Lê Thị Hải Yến |
Bản án số 106/2025/HS-ST ngày 27/11/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 106/2025/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 27/11/2025
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 3 - HẢI PHÒNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đồng Đức Cán tàng trữ trái phép ma tuý
